Tiếng ồn và điếc nghề nghiệp

1.Tiếng ồn

1.1. Khái niệm

– Tiếng ồn là một tập hợp của tất cả những âm thanh hỗn hợp trong môi trường, từ mọi nguồn, mọi phía tác động lên cơ quan thính giác nên nó cũng mang đầy đủ những đặc tính của âm thanh, ví dụ tiếng gà kêu hoặc tiếng xe chạy…Nếu tập hợp trong môi trường gồm cả tiếng gà, vịt kêu, tiếng người nói, tiếng xe chạy…Làm cho người ta không nhận thấy loại tiếng nào thì đó là tiếng ồn. Tất cả những âm thanh hỗn tạp này tác động lên tai ta bằng một áp lực mạnh hay yếu là tùy thuộc vào sự tổng hợp của cường độ âm và tần số rung động của âm thanh lên cơ quan thính giác.

– Tần số của tiếng ồn cũng như tần số âm được đo bằng số lần rung động trong một giây, đây là âm thanh cộng hưởng, đơn vị tính là hertz (Hz). Tai ta thu được các âm thanh từ 16 đến 20000 Hz. Ở mức 16Hz tai ta cảm nhận được và ở mức 20000 Hz là ngưỡng chụi đựng cuối cùng của tai những người bình thường. Mức nghe bình thường là khoảng từ 500 – 5000 Hz khả năng tách âm của tai ta giới hạn từ 0,3 đến 1% Hz.

– Biên độ của tiếng ồn cũng là sự cộng hưởng của các biên độ hay cường độ âm thanh cụ thể. Xuất phát từ áp lực âm thanh lên thính giác tạo ra một năng lượng âm Egr/cm­­­2/s, 1 Egr/c­­­m2/s =6,4 Bar (Bar là đơn vị đo áp lực dễ thực hiện). Thông thường ngưỡng cảm ứng với áp lực âm thanh (tiếng ồn) của tai ta là từ 10-9 Egr/cm2/s còn ngưỡng đau tai ta không chụi được là đến 10+4 Egr/cm2/s. Trên cở này người ta lấy khoảng cách từ 10-9 – 10+4 bao gồm 13 bậc và lấy làm đơn vị thể hiện cường độ của tiếng ồn, nó được qui định là 13 Bell. Trong thực hành vệ sinh lao động người ta còn chia nhỏ ra thành Dexibell (db) để ứng dụng.

Ví dụ: Nói chuyện bình thường khoảng 30 – 40 db.

Tiếng búa rèn khoảng 100 – 120 db.

Tiếng búa hơi khoảng 120 db.

Tiếng máy bay phản lực 130 db.

Tác hại của tiếng ồn trong môi trường trên thực tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Không những tác hại phụ thuộc vào bản chất của tiếng ồn và các yếu tố cộng hưởng mà còn phụ thuộc vào cơ địa của bệnh nhân. Cường độ của tiếng ồn càng cao khả năng gây hại càng lớn, các sóng cao tần có thể gây hại ngay ở mức 70 db trong khi các sóng trung tần hoặc tần số thấp phải 80- 90 db mới gây hại cho cơ thể người tiến xúc.

Một số yếu tố rung chuyển, hóa chất độc hại cũng làm tăng khả năng tác động sấu của tiếng ồn. Người ta nhận thấy trong môi trường ồn, rung kết hợp tỷ lệ người rối loạn sinh lý tăng lên nhiều, bệnh điếc nghề nghiệp cũng tăng cao hơn so với tiếng ồn cùng mức độ đơn thuần.

Một số yếu tố nghề nghiệp như tính chất tiếp xúc ( tiếp xúc ngắt quãng hoặc liên tục…), tuổi nghề trong môi trường và không gian cấu trúc nhà xưởng cũng có vai ỷtò quan trọng đối với khả năng tác đọng của tiếng ồn.

Đặc tính cơ địa của cơ thể đối với khả năng tác động của tiếng ồn cũng được nhiều tác giả bàn tới. Trên thực tế có những người chỉ làm việc một thời gian ngắn ở môi trường có tiếng ồn vượt tiêu chuẩn cho phép đã bị điếc nghề nghiệp, trong có những người cùng làm việc trong môi trường đó hàng mấy trục năm mà không bị bệnh. Có tác giả cho rằng nguyên nhân chính là do cơ địa thần kinh của người tiếp xúc, có người cho rằng sức khỏe và sự rèn luyện có vai trò quan trọng.

1.2 Một số tác hại chính của tiếng ồn

Tiếng ồn gây nhiều tác hại lên cơ thể như rối loạn các phản ứng sinh lý, sinh hóa của cơ thể, gây bệnh lên cơ quan thính giác và kết hợp gây bệnh ở hệ thần kinh với các yếu tố tác hại nghề nghiệp khác.

Tác hại toàn thân của tiếng ồn thường gặp nhất là gây rối loạn sinh lý cấp tính và mạn tính. Nguyên do của hiện tượng này là do tiếng ồn kích thích thần kinh trung ương dẫn đến hiện tượng mất cân bằng trong điều chỉnh thần kinh thực vật gây nên hiện tượng suy nhược cấp tính hệ thần kinh thực vật của cơ thể. Quá trình suy nhược kéo dài sẽ chuyển sang giai đoạn mạn tính bởi lẽ tác động của tiếng ồn là thường xuyên, sự kích thích liên tục, quá trình ức chế xuất hiện do ngưỡng đáp ứng của hệ thần kinh tăng lên, xuất hiện và ức chế bảo vệ, hệ thần kinh ngoại biên có thể bị viêm và khả năng điều hòa của hệ thần kinh thực vật có thể bị rối loạn. Hậu quả của rối loạn này là trạng thái suy nhược mạn tính, ăn không ngon ngủ không yên, tính tình thay đổi hay cáu gắt, thiếu kiên nhẫn ở nơi làm việc cũng như ở nhà. Tiếng ồn gây tăng huyết áp, gây tăng nhịp tim. Đối với cơ quan tiêu hóa có thể gây loét dạ dày tá tràng.

Tiếng ồn có thể tác động trực tiếp lên cơ quan thính giác của người tiếp xúc qua một quá trình thường là lâu dài qua 3 giai đoạn. Lúc đầu là hiện tượng thích nghi sau đó đến mệt mỏi thính giác rồi cuối cùng là điếc nghề nghiệp.

– Giai đoạn thích nghi là thời gian tiếp xúc với tiếng ồn vượt quá tiêu chuẩn cho phép, ngưỡng nghe tăng lên khoảng 10-15db so với bình thường ( 10 db ) như vậy lúc này ngưỡng nghe khoảng 20-25 db, tuy nhiên nếu tách ra khỏi môi trường có tiếng ồn cao thì ngưỡng nghe trở lại bình thường ( hồi phục )

– Giai đoạn mệt mỏi thính giác: do thính giác chụi tác động quá lâu ngưỡng nghe tăng lên 30-40 db kéo dài nên khi ra khỏi môi trường lâu mới hồi phục lại bình thường.

– Giai đoạn điếc nghề nghiệp: cơ quan thính giác bị tổn thương không hồi phục mặc dù người bệnh ra khỏi môi trường có tiếng ồn vượt tiêu chuẩn cho phép. Cả cơ quan Corti và dây thần kinh thính giác ở tai trong đều bị tổn thương

1.3 Phòng chống tiếng ồn trong sản xuất

Để phòng chống tiếng ồn lên sức khỏe người lao động cần đặc biệt lưu ý các điểm sau đây:

– Bằng mọi cách loại trừ hoặc hạn chế nguồn phát sinh ra tiếng ồn như hệ thống kín, giảm thanh.

– Cần có kiến trúc xây dựng nhà xưởng hợp lý hoặc trồng cây xanh có nhiều lá để góp phần làm giảm tiếng ồn cũng như các yếu tố kết hợp khác như rung sóc và hóa chất độc.

– Phòng hộ cá nhân thu được hiệu quả tức thời và nhiều khi rất tốt cho những người bắt buộc phải tiếp xúc với tiếng ồn. Chỉ đơn giản là dùng nút bông nút tai ở người lao động, người đi máy bay, có thể giảm được 5-10 db tiếng ồn môi trường. Các dụng cụ bịt tai chụp hoàn toàn bộ tai ngăn được tiếng ồn từ 10-20 db nên hầu hết tiếng ồn trở nên thấp, dưới mức gây hại. Trong những điều kiện phải tiếp xúc với tiếng ồn quá cao như lái xe tăng, pháo thủ hoặc môi trường có tiếng tương tự người ta phải dùng mũ chống tiếng ồn, chụp che toàn bộ tai mới bảo vệ được cơ quan thính giác trước tác hại của tiếng ồn.

– Chế độ lao động và nghỉ ngơi hợp lý cũng đóng vai trò làm giảm tác hại của tiếng ồn vì thần kinh và các cơ quan không bị kích thích hoặc tăng ngưỡng dẫn đến mệt mỏi không hồi phục, không chuyển sang giai đoạn bệnh lý mạn tính. Thời gian lao động đủ gây mệt mỏi hoặc chưa mệt mỏi đã được nghỉ sẽ mau hồi phục chức năng của các cơ quan trong cơ thể trong đó có cơ quan thính giác.

– Vấn đề y tế và lao động cần lưu ý là việc tiêu chuẩn hóa môi trường lao động có tiếp xúc với tiếng ồn và chăm sóc sức khỏe cho người lao động. Môi trường lao động phải có tiếng ồn dưới tiêu chuẩn cho phép.

– Tiếng ồn chung < 85 db

– Sóng cao tần 800 Hz trở lên < 75 db

– Sóng trung tần 300-800 Hz < 85 db

– Sóng hạ tần dưới 300 Hz < 95 db

Trong khám, tuyển người lao động vào lao động ở môi trường có tiếng ồn cao cần loại trừ những người có bệnh tai thần kinh. Đối với người lao động làm việc tiếp xúc với tiềng ồn vượt tiêu chuẩn cho phép cần được khám sức khỏe thường xuyên để kịp thời phát hiện những tình trạng bệnh lý ban đầu do tiếng ồn hoặc bệnh ở giai đoạn mới, giai đoạn tiềm tàng có thể chữa khỏi được và nếu người nào bị bệnh ở giai đoạn biến chứng thì giải quyết chế độ cho họ theo chế độ hiện hành.

  1. Điếc nghề nghiệp

Trong quá trình phát triển công nghiệp số người lao động trong môi trường có tiếng ồn ở mức gây hại ngày càng tăng. Tỷ lệ người chụi tác động của tiếng ồn gây hại ở các nước công nghiệp phát triển khoảng 25-30% trong tổng số những người lao động, do vậy số người bị điếc nghề nghiệp ngày càng tăng. Tỷ lệ người chụi tác động của tiếng ồn gây hại ở các nước công nghiệp phát triển khoảng 25-30% trong tổng số những người lao động, do vậy số người bị điếc nghề nghiệp ngày càng tăng và trở nên phổ biến. Ở nhiều nước tỷ lệ điếc nghề nghiệp chiếm tới 40% trong số các bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm. Ở nước ta tỷ lệ bệnh nhân điếc nghề nghiệp được bảo hiểm chỉ đứng sau bệnh bụi phổi silic nghề nghiệp.

– Điếc nghề nghiệp là một vi chấn thương âm do tiếng ồn quá mức gây hại lên cơ quan thính giác đặc biệt là những tổn thương không hồi phục của cơ qquan Corti ở tai trong.

– Thông thường tiêng ồn quá tiêu chuẩn cho phép được tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ( OSI ) quy định năn 1967 là 90 ± 2,5 db

-Với môi trường lao động áp dụng TCVN 1985-1999 “ Mức ồn cho phép tại nơ làm việc ”trong đó quy định : “Mức áp âm liên tục hoặc mức tương đương LedBA tại nơi làm việc không quá 85 dBA trong 8 giờ lao động”

2.1 Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh của điếc nghề nghiệp

Nguyên nhân gây điếc nghề nghiệp cũng như các các rối loạn sinh lý ở người tiếp xúc thường xuyên với tiêng ồn không những phụ thuộc vào bản chất của tiếng ồn, các yếu tố độc hại kết hợp mà còn bởi khả năng đáp ứng của cơ thể người tiếp xúc có tính chất mẫn cảm, cơ địa …nhìn những người bị các bệnh ở tai dễ bị điếc nghề nghiệp, trừ các trường hợp bị xốp xơ tai, cứng khớp bàn đạp trong hệ thống dẫn truyền âm của tai. Những người lao động trong môi trường luyện cán thép, các máy nghiền, quay, rèn…đều có thể bị tác động của tiếng ồn. Ở nước ta các nghành sản xuất như dệt, cơ khí điện máy, luyện kim đều xuất hiện tỷ lệ điếc nghề nghiệp cao.

– Về cơ chế bệnh sinh của bệnh điếc nghề nghiệp đến nay được người ta đưa ra hai vấn đề chính là cơ chế thần kinh và cơ học.Về cơ chế thần kinh đã được các tác giả nghiên cưu từ thế kỷ 19. Năm 1880 Habermann quan sát thấy tiếng ồn gây nên những thương tổn ở bộ phận thần kinh của cơ quan thính giác, ngày nay người ta quan sát thấy ở những người tiếp súc với tiếng ồn, ngưỡng đáp ứng thần kinh thính giác tăng, dẫn đến mất khả năng nhậy cảm thông thường dần dần không cảm ứng được với âm tần có cường độ thấp.

Từ 1918 Vitmark đã sác định ở cơ quan thính giác người bệnh có tổn thương hệ thống tế bào lông tại cơ quan Corti trong giai đoạn đầu sau đó đến sự dày lên, xơ hóa màng nhĩ và cơ quan Corti. Nguyên nhân của hiện tượng này do các tế bào chụi áp lực âm thanh mạnh lên bề mặt tế bào cũng như các sợi lông chụi tác động thương xuyên mà dầy lên và dần mất cảm ứng, gây nên hiện tượng trơ về mặt cơ học cũng như thần kinh và đó là điếc nghề nghiệp trong thực tế đã xảy ra.

– Một đặc điểm trung của điếc nghề nghiệp là bao giờ cũng thấy sự thiếu hụt thính lực ở tần số cao, đặc biệt là ở tần số 4096 Hz sau đó mới dẫn đến các âm tần khác, tiếng ồn trong sản xuất thường là từ 2000 Hz trở lên, đây xẽ là tần số chính gây tổn thương vùng đáy của loa đạo, thường thì tiếng ồn có tần số thấp sẽ gây tổn thương vùng đỉnh của loa đạo  ( ốc tai ).

2.2 Bệnh lý lâm sàng và cận lâm sàng

Điếc nghề nghiệp thường xảy ra qua hai giai đoạn là điếc tiềm tàng và điếc rõ rệt.

-Giai đoạn điếc tiềm tàng thường kéo dài hàng năm do tiến triển chậm một cách âm ỉ ngày một năng hơn, lúc đầu là hiện tượng giảm sức nghe ở tần số cao xung quanh 4000 Hz mà trên thính lực đò thấy hình chữ V cố đỉnh ở khu vực 4000 Hz cố thể ở ở vị trí này ngưỡng nghe tụt xuống 50-60 db thậm chí 60-70 db càng về sau tiến triển lâm sàng tăng các nghành chữ V ngày một rộng ra. Các tần số kế cận cao hơn hoặc thấp hơn thì ngưỡng nghe thường còn thấp. Nhìn trên thính lực đồ của các giai đoạn phát triển điếc nghề nghiệp ta thấy nó tương ứng với các đường 2,3 và 4. Ở giai đoạn điếc tiềm tàng khả năng nghe nói nhỏ giảm, bản thân nghười bệnh nói to hơn bình thường song chưa cảm giác được mình bị điếc. Trong khám sức khỏe định kỳ người thầy thuốc phải chú ý và đo thính lực mới có thể kết luận là bệnh nhân có bị điếc hay không. Tuy nhiên vẫn còn theo dõi và tách bệnh nhân ra khỏi môi trường và điều trị thêm để chuẩn đoán phân biệt.

– Giai đoạn điếc rõ rệt: lúc này khả năng phat hiện đã dễ tuy nhiên không có một ranh giới rõ rệt. Người bệnh ngẫu nhiên nhận thấy mình không nghe rõ một số tiếng như tiếng tích tắc của đồng hồ đeo tay. Nhưng người công nhân thường có ý thức về bệnh của họ, thính lực ở giai đoạn này mức độ nghe kém đã tăng, lan sang cả vùng các tần số sinh hoạt nên khi giao tiếp hội thoại đã có khó khăn không bình thường. Đòng thời ở giai đoạn này đã có ù tai, cường độ và thời gian bị ù có thay đổi không nhất định theo một quy luật nào. Thính lực âm và thính lực lời đã có thể hiện thiếu hụt rõ rệt. Tùy theo kết quả người ta chia làm 3 mức độ.

* Mức độ nhẹ:

– Với thính lực âm: còn chữ V, 2 nghành chữ V đã mở rộng, ngưỡng nghe ở tần số 2000 đã tăng từ 30 db trở lên.

– Với thính lực lời: chưa bị ảnh hưởng nhiều, tổn thương thính lực lời thường thấp chậm hơn thính lực âm

– Các nghiệm pháp trên ngưỡng thường thấy dương tính với hiện tượng Recuitment

* Mức độ trung bình

– Với thính lực âm: biểu hiện điếc tiếp âm thể loa đạo đáy, thiếu hụt thính lực rõ rệt ở tất cả các tần số cao, các tần số sinh hoạt cũng bị giảm

– Với thính lực lời: có tổn thương rõ, ngưỡng nghe cao hơn ngưỡng nghe ở các tần số sinh hoạt, thường có Recuitment (+) hoặc mất nhận biết với từ thử.

– Nghiệm pháp trên ngưỡng chứng tỏ có tổn thương ở cơ quan Corti

* Mức độ nặng

– Với thính lực âm biểu hiện một điếc tiếp âm thể toàn loa đạo: ngưỡng nghe tất cả các tần số đều tăng lên 40 db

– Với thính lời: có thương tổn rõ, ngưỡng nghe lời cao: thường mất nhận biết dù với tần số cao: đồng thời có thể có hiện tượng thích ứng lời nói ở cường độ thấp hơn bình thường.

– Các nghiệm pháp trên ngưỡng thể hiện không chỉ tổn thương ở cơ quan Corti mà còn ở cả thần kinh thính giác.

– Một đặc điểm cần lưu ý là ở giai đoạn này các tổn thương không có khả năng hồi phục mặc dù người lao động đã được cách ly với tiếng ồn gây hại và được chăm sóc tốt.

2.3 Chẩn đoán điếc nghề nghiệp:

Để chẩn đoán xác định người ta dựa trên 3 cơ sở:

– Tính chất nghề nghiệp: rất quan trọng, cần phải hỏi, điều tra đầy đủ và lập hồ sơ rõ ràng chi tiết về cường độ và thời gian tiếp xúc với tiếng ồn.

Trước hết người công nhân phải làm việc ở môi trường có tiếng ồn cao hơn ngưỡng gây hại ( theo vị trí lao động của người đó ). Thời gian làm việc ở môi trường ồn phải được ghi lại đầy đủ, kể cả các nghề cũ có tiếng ồn, vì thời gian tiếp xúc càng lớn, khả năng bị bệnh càng nhiều và nếu đã bị từ nghề trước thì hiện nay vẫn không thay đổi.

– Khám lâm sàng: cần khám về tai mũi họng đầy đủ để chứng tỏ không có tổn thương gì về màng tai, tai giữa và xương chũm, cũng như không có tổn thương ở tiền đình vì điếc nghề nghiệp chỉ gây nên các tổn thương ở loa đạo của tai trong.

– Đo thính lực: phải thể hiện một điếc tiếp âm, đối xứng hai tai, ở từng tần số chênh lệch giữa 2 tai không quá 10 db: tùy theo mức độ nặng hay nhẹ sẽ có thể loa đạo đáy hay thể toàn loa đạo, có hiện tượng Recuitment hay không. Sau một thời gian thính lực đồ phải không khá lên ngay cả khi nghỉ ngơi không tiếp xúc với tiếng ồn.

– Cần chẩn đoán phân biệt điếc nghề nghiệp với các bệnh sau:

. Tai nạn lao động: những trường hợp bị điếc ngay khi mới tiếp xúc với tiếng ồn là do chấn thương âm, do quá mẫn, thiếu phản ứng thích nghi của cơ thể, được coi là tai nạn lao động.

. Viêm nhiễm: ở màng tai không bị tổn thương cũng gây nên điếc, nhưng biểu đồ thính lực thể hiện một điếc truyền âm hay điếc hỗn hợp.

. Xốp xơ tai: ở màng tai không bị tổn thương, vòi nhĩ thông nhưng thính lực đồ biểu hiện một điếc hỗn hợp ( có thể có trường hợp nặng về tai trong ) nghiệm pháp Gelée (+)

. Chấn thương : có thể gặp do chấn thương âm: có tiền sử, bị đột ngột cũng là điếc tiếp âm có thể một hay hai tai nhưng thường diễn biến nhanh điếc nặng hay điếc đặc ngay và thường có kèm theo tổn thương tiền đình

+ Nhiễm độc tai trong: thường gặp do hóa chất hay do thuốc như Steptomycin, quinin…không có tổn thương thực thể, điếc tiếp âm, tiến triển nhanh chóng, nhưng đôi khi cũng kéo dài hàng tháng hay lâu hơn làm cho việc chẩn đoán khó khăn. Chủ yếu dựa vào khai thác tiền sử và các biện pháp trên ngưỡng

2.4 Phòng hộ và giám định điếc nghề nghiệp

Cần có những phương pháp dự phòng và xử trí sớm cho người bệnh gồm hai lĩnh vực phòng hộ: kỹ thuật và y tế

2.4.1 Phòng hộ kỹ thuật

Các biện pháp phòng hộ kỹ thuật nhằm giảm nguồn sinh ra tiếng ồn như chống va chạm, ma sát, sử dụng các vật liệu công cụ mềm thay kim loại cứng…

– Thu hồi, triệt tiêu nguồn âm: được thực hiện qua các ống hộp giảm âm để làm giảm bớt cường độ nguồn âm sinh ra.

– Cách ly, chống phản hồi, cộng hưởng âm: bao gồm các biện pháp về kỹ thuật và thiết kế nhằm cô lập cách ly nguồn âm hay hấp thụ bớt âm đã sinh ra

2.4.2 Phòng hộ y tế

Hiện nay dang được tập trung nghiên cứu

– Dụng cụ phòng hộ: có nhiều loại nhưng tập trung trong 2 loại hình chính

+ Nút tai có định hình hay không định hình

+ Loa che tai đơn giản hay phức tạp như một mũ che cả đầu

Các loại dụng cụ này thường làm giảm từ 20-40 db, như vậy xẽ đưa cường độ có hại xuống mức gây hại.

– Một yêu cầu cơ bản là các dụng cụ trên phải khít chặt nhưng không gây khó chụi, kích thích tai và không ảnh hưởng gì đến khả năng lao động.

– Tổ chức lao động nghỉ ngơi hợp lý nhằm làm cho tai thích ứng được với tiếng ồn không bị tình trạng quá mệt mỏi.

Tập luyện thích ứng: vai trò của thể dục thể thao trong phòng hộ tiếng ồn khá quan tọng vì nó là cơ sở cho các cơ ở vùng tai to khoẻ ra nên sẽ có lợi để bảo vệ tai trong khi tiếng ồn quá mạnh.

– Chế độ nghỉ ngơi: cần tạo điều kiện để sau giờ lao động công nhân có thể nghỉ ngơi yên tĩnh hoặc nghe nhạc nhẹ có cường độ thích hợp nhằm làm cho tai được phục trở lại nhanh sau những giờ tiếp xúc với tiếng ồn.

Comments

comments

BÌNH LUẬN

Bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.